DinhGiaThuongHieu.comĐịnh Giá Thương Hiệu
Thương hiệu theo từng ngành

Thương hiệu phòng khám, nha khoa: tên còn giá trị bao nhiêu khi bác sĩ chính rời đi

Ở phòng khám, nha khoa, uy tín dính vào bác sĩ, giấy phép gắn người chịu trách nhiệm chuyên môn, quảng cáo bị kiểm soát. Cách đo phần tên còn lại khi đổi chủ.

Calm modern dental clinic corridor seen at a low angle, empty treatment chair glimpsed through a glass door, white and pale lavender walls, soft morning light, nobody visible

Ở phòng khám và nha khoa tư, phần lớn uy tín được xây quanh một hoặc vài bác sĩ: người bệnh quay lại vì tin tay nghề và cách khám của người đó, giới thiệu nhau bằng tên bác sĩ nhiều hơn tên phòng khám. Giá trị tên phòng khám, nếu có, là phần người bệnh vẫn tìm đến sau khi bác sĩ chính không còn khám ở đó. Phần này thường nhỏ hơn chủ phòng khám nghĩ, nhưng không phải bằng không khi phòng khám đã có hệ thống.

Bài này chỉ cách đo phần tên còn lại, những ràng buộc riêng của ngành y như giấy phép và người chịu trách nhiệm chuyên môn, giới hạn quảng cáo, dữ liệu sức khoẻ, và rủi ro khi cho cơ sở khác dùng tên. Định giá cả phòng khám gồm thiết bị, mặt bằng là bài toán định giá cơ sở kinh doanh; ở đây chỉ tách phần cái tên. Mọi con số là ví dụ giả định; quy định chuyên ngành chỉ nêu nguyên lý, cần kiểm văn bản hiện hành. Con số dùng cho góp vốn, thuế hay toà án phải do doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền lập.

Vì sao trong y tế cái tên dính chặt vào người

Dịch vụ khám chữa bệnh là dạng điển hình của hàng tín nhiệm: người bệnh không đủ kiến thức để tự đánh giá chẩn đoán đúng hay sai, điều trị cần hay thừa. Họ dựa vào lòng tin với người khám, và lòng tin đó hình thành qua tiếp xúc trực tiếp nhiều lần. Cái tên phòng khám chỉ nhận được phần lòng tin này khi người bệnh có trải nghiệm tốt với nhiều bác sĩ khác nhau ở cùng nơi, hoặc khi quy trình của phòng khám tạo ra cảm giác an tâm độc lập với ai đang khám.

Yếu tố thứ hai là giới hạn quảng cáo. Quảng cáo dịch vụ khám chữa bệnh chịu kiểm soát chặt theo quy định hiện hành, nên tên phòng khám nhỏ lớn lên chủ yếu bằng truyền miệng, mà truyền miệng thì đi kèm tên bác sĩ. Phòng khám không thể "mua" nhận biết tên bằng quảng cáo như ngành hàng tiêu dùng, nên phần tên tách khỏi người thường mỏng.

Yếu tố thứ ba là pháp lý. Giấy phép hoạt động của cơ sở khám chữa bệnh gắn với cơ sở, điều kiện, và người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh và văn bản hướng dẫn. Cái tên không mang theo giấy phép, và người chịu trách nhiệm chuyên môn đổi thì phải làm thủ tục theo quy định.

Ba phép thử phần tên còn lại khi bác sĩ chính vắng mặt

Tỷ lệ người bệnh không chỉ định bác sĩ. Trong hệ thống đặt lịch, bao nhiêu người bệnh đặt "bất kỳ bác sĩ nào" hay để phòng khám xếp. Tỷ lệ này cao cho thấy người bệnh tin phòng khám; thấp thì họ tin người.

Doanh thu của các bác sĩ không phải người sáng lập. Nếu phòng khám có nhiều bác sĩ, so lượng người bệnh mới và người bệnh quay lại của bác sĩ khác với bác sĩ chính. Bác sĩ khác vẫn đủ lịch thì tên phòng khám đang làm việc kéo người.

Diễn biến khi bác sĩ chính nghỉ phép dài. Một hai tháng bác sĩ chính vắng, số lượt khám giữ được bao nhiêu, người bệnh có chờ hay chuyển sang bác sĩ khác. Đây là phép thử gần nhất với tình huống sau khi bán.

Nguồn người bệnh mới. Người bệnh mới đến vì tìm đúng tên phòng khám, vì người quen giới thiệu tên phòng khám, hay vì được bác sĩ chuyển từ nơi khác. Nguồn thứ ba gắn chặt với quan hệ cá nhân của bác sĩ và thường mất khi bác sĩ rời đi, nên không tính vào phần tên.

Ví dụ giả định: chiết khấu phụ thuộc người cho phần tên nha khoa

Một phòng khám nha khoa ba ghế, hai bác sĩ, trong đó người sáng lập đảm nhận phần lớn ca phức tạp. Đơn vị triệu đồng/năm, mọi con số là ví dụ giả định.

Dòng tínhGiá trịGhi chú
Lợi nhuận đã làm sạch1.800Sau khi trả lương người sáng lập theo mức thuê một bác sĩ cùng trình độ
Lợi nhuận bình thường của phòng khám không tên cùng quy mô− 1.200Quan sát phòng khám đối chứng cùng khu
Phần vượt mức600
Phần do tay nghề người sáng lập (ước 65%)− 390Theo tỷ lệ người bệnh chỉ định đích danh
Phần do vị trí, thiết bị− 60
Phần quy cho tên mỗi năm150
Số năm tác dụng nếu người sáng lập rời đi3 nămTruyền miệng giảm dần
Tỷ lệ chiết khấu22%Rủi ro y khoa, rủi ro pháp lý ngành
Giá trị hiện tại phần tênkhoảng 300Hệ số niên kim 3 năm ở 22% xấp xỉ 2,04

Chủ phòng khám thường bất ngờ vì phần tên nhỏ như vậy so với lợi nhuận. Lý do không phải phòng khám kém, mà phần lớn giá trị nằm ở người sáng lập. Nếu người sáng lập ở lại hành nghề sau giao dịch, giá trị trao đổi sẽ khác hẳn, nhưng khi đó thứ được trả tiền là sự cam kết của người, không phải cái tên.

Ai mua tên phòng khám và họ trả cho phần nào

Người mua phòng khám nhỏ thường thuộc ba nhóm, và mỗi nhóm nhìn cái tên khác nhau. Bác sĩ trẻ muốn có cơ sở riêng trả chủ yếu cho mặt bằng, thiết bị và lượng người bệnh hiện có; với họ tên là khoản cộng nhỏ, vì họ sẽ dần xây uy tín của chính mình. Chuỗi phòng khám mua để thêm điểm thường đổi sang tên chuỗi, nên gần như không trả cho tên cũ, chỉ trả cho người bệnh có thể giữ lại và vị trí. Nhà đầu tư không chuyên môn thì cần tên và hệ thống để thuê bác sĩ vận hành; họ trả cho tên nhiều nhất nhưng cũng soi phép thử vắng bác sĩ kỹ nhất.

Hiểu nhóm người mua giúp chủ phòng khám tránh hai sai lầm: đòi chuỗi trả tiền cho cái tên họ sẽ bỏ, và bán cho nhà đầu tư với giá tên cao mà không có hệ thống để tên sống được. Trường hợp sau dễ dẫn tới tranh chấp khi lượng người bệnh giảm sau chuyển giao.

Với cả ba nhóm, một giai đoạn bác sĩ cũ tiếp tục khám có thời hạn sau giao dịch, kèm giới thiệu người bệnh sang bác sĩ mới, thường làm tăng phần giá trị thu về nhiều hơn mọi lập luận về tên.

Dữ liệu người bệnh không phải danh sách khách để bán

Ở ngành khác, danh sách khách hàng đã đồng ý nhận thông tin là một tài sản có thể tính vào giá. Ở phòng khám, hồ sơ bệnh án và thông tin sức khoẻ là dữ liệu cá nhân nhạy cảm, chịu quy định chặt về bảo mật thông tin người bệnh và bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành.

Việc chuyển hồ sơ người bệnh khi đổi chủ cơ sở phải theo đúng quy định chuyên ngành và quy định về dữ liệu, thường với mục đích tiếp tục điều trị, không phải để khai thác tiếp thị. Người mua không nên trả tiền cho "dữ liệu khách" như một tài sản riêng, và người bán không nên chào bán nó như vậy.

Điều có thể tính là kết quả mà dữ liệu đó phản ánh: tỷ lệ người bệnh quay lại tái khám, tỷ lệ hoàn thành liệu trình. Những chỉ số này cho thấy sức giữ chân của phòng khám, đưa vào phần tên một cách hợp lệ mà không cần chuyển dữ liệu nhạy cảm.

Cho cơ sở khác dùng tên phòng khám: rủi ro chuyên môn lan sang tên

Một số phòng khám có tiếng mở rộng bằng cách cho bác sĩ khác mở cơ sở dưới cùng tên, kèm quy trình và hỗ trợ. Với chủ tên, dòng phí thu được trông hấp dẫn. Nhưng trong y tế, một sự cố chuyên môn ở cơ sở đối tác gây tổn hại người bệnh sẽ kéo cả tên xuống, và có thể kéo theo tranh chấp về trách nhiệm.

Vì vậy khi định giá dòng phí từ việc cho dùng tên phòng khám, cần trừ ba khoản: chi phí kiểm soát chuyên môn thật sự (đào tạo, giám sát ca, kiểm tra quy trình vô khuẩn), chi phí xử lý sự cố, và một phần rủi ro tổn hại tên gốc. Thoả thuận phải phân rõ ai là cơ sở được cấp phép hoạt động, ai chịu trách nhiệm chuyên môn, và người bệnh được thông tin đúng về việc mình đang khám ở cơ sở nào.

Phòng khám chưa có quy trình chuẩn viết ra, chưa từng đào tạo bác sĩ bên ngoài, thì cho dùng tên là đem tài sản lớn nhất của mình đặt vào tay người khác. Với những trường hợp này, tỷ lệ chiết khấu dòng phí phải cao, và nhiều khi không cấp phép là quyết định đúng về giá trị.

Dấu hiệu tên phòng khám mạnh và tên dựa vào người

Dùng bảng này để tự chấm trước khi nói chuyện với người mua hay đối tác.

Dấu hiệu tên mạnhDấu hiệu tên dựa vào người
Nhiều bác sĩ, lịch của ai cũng kínMột bác sĩ kín lịch, người khác vắng
Người bệnh đặt lịch không chỉ định bác sĩNgười bệnh hỏi đích danh, chờ đúng người
Quy trình tiếp đón, tư vấn, theo dõi sau điều trị viết ra và áp dụng đềuMỗi bác sĩ làm một kiểu
Người bệnh giới thiệu nhau bằng tên phòng khámGiới thiệu bằng tên bác sĩ
Đã từng thay bác sĩ mà lượng người bệnh giữ đượcChưa từng thay hoặc thay thì mất nhiều

Phần lớn phòng khám nhỏ nằm ở cột phải, và điều đó bình thường. Vấn đề chỉ xảy ra khi chủ phòng khám định giá tên như thể đang ở cột trái. Muốn dịch sang cột trái cần vài năm xây quy trình và đội ngũ, không làm được trong vài tháng trước giao dịch.

Câu hỏi thường gặp

Bác sĩ chính bán phòng khám rồi mở chỗ khác gần đó thì tên phòng khám cũ còn gì?

Rất ít, vì người bệnh theo bác sĩ. Người mua thường đòi cam kết không hành nghề cạnh tranh trong phạm vi và thời gian nhất định; tính hợp lệ của cam kết như vậy cần luật sư xem theo luật hiện hành. Phần giá tên phụ thuộc trực tiếp vào cam kết này.

Đổi tên phòng khám sau khi mua lại có cần làm thủ tục không?

Thường có, vì tên cơ sở gắn với giấy phép hoạt động và biển hiệu theo quy định chuyên ngành. Cần kiểm thủ tục hiện hành. Về giá trị, nếu định đổi tên thì không nên trả tiền cho tên cũ, chỉ trả cho cơ sở và người bệnh có thể giữ lại.

Điểm đánh giá trên bản đồ và mạng xã hội có tính vào giá trị tên phòng khám không?

Tính gián tiếp: nó phản ánh mức tin cậy, nhưng nhiều đánh giá nhắc tên bác sĩ. Người mua nên đọc nội dung đánh giá xem nhắc phòng khám hay nhắc người. Đánh giá không thật là rủi ro, không phải tài sản.

Phòng khám chuỗi vài cơ sở thì phần tên có lớn hơn không?

Thường lớn hơn, vì đã chứng minh được tên mang sang chỗ mới và có nhiều bác sĩ. Tuy vậy vẫn cần xem từng cơ sở có giữ được người bệnh khi thay bác sĩ không, và cơ sở nào kéo cả chuỗi xuống.

Có nên định giá tên phòng khám để góp vốn vào công ty mới không?

Có thể, nhưng các bên nên hiểu phần lớn giá trị nằm ở bác sĩ góp sức, không ở tên. Cơ chế hợp lý thường là tên góp với giá trị thận trọng, còn đóng góp của bác sĩ được ghi nhận bằng thoả thuận về lương, thưởng và phần lợi nhuận.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.