Cái tên đã có văn bằng bảo hộ thường bán được giá cao hơn rõ rệt so với cái tên chưa đăng ký, dù hai bên có cùng doanh thu và cùng lượng khách quen. Lý do không nằm ở doanh thu mà ở độ chắc chắn: văn bằng cho chủ sở hữu quyền ngăn người khác dùng dấu hiệu trùng hoặc gây nhầm lẫn cho hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký. Người mua trả tiền cho dòng lợi nhuận mà cái tên mang lại và cho khả năng giữ dòng lợi nhuận ấy lâu dài. Cái tên chưa đăng ký chỉ bán được vế thứ nhất.
Việt Nam xác lập quyền với nhãn hiệu thông thường chủ yếu qua đăng ký theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên: ai nộp đơn hợp lệ trước thì được xét trước, người dùng lâu năm không tự động có quyền. Vì vậy cái tên chưa đăng ký mang theo một rủi ro mà người mua phải tự gánh: có thể ngày mai đã có người khác nộp đơn. Bài này chỉ cách quy rủi ro đó thành con số, bằng các ví dụ giả định, để cả người bán lẫn người mua thương lượng trên cùng một mặt bằng.
Người mua thật ra đang trả tiền cho điều gì
Khi một người mua lại thương hiệu quán ăn, shop mỹ phẩm hay dòng đặc sản, họ không mua cái tên như một chuỗi chữ. Họ mua bốn thứ gói chung: lượng khách tìm đến vì cái tên, mức giá bán cao hơn hàng không tên, sự dễ dàng khi mở thêm điểm hay thêm sản phẩm, và quyền ngăn người khác hưởng ké những thứ đó. Ba thứ đầu là giá trị kinh tế, tồn tại cả khi chưa đăng ký. Thứ tư là giá trị pháp lý, và nó quyết định ba thứ kia có thật sự thuộc về người mua hay không.
Hình dung một quán bún đã bán mười năm dưới một cái tên quen. Nếu tên chưa được bảo hộ, người mua trả tiền xong vẫn có thể gặp ba tình huống: người bán cũ mở quán khác cách hai con phố với cái tên na ná; một người không liên quan nộp đơn đăng ký trước và gửi văn bản yêu cầu ngừng sử dụng; hoặc người mua muốn vay vốn, góp vốn bằng thương hiệu nhưng không có giấy tờ nào chứng minh quyền. Văn bằng không loại bỏ hết rủi ro, nhưng nó biến phần lớn rủi ro thành việc có công cụ pháp lý để xử lý.
Cũng vì thế, khi định giá, phần chênh giữa hai tình trạng pháp lý nên được tính như một khoản chiết khấu rủi ro trên cùng một giá trị kinh tế, chứ không phải hai cách định giá khác nhau. Làm vậy giúp hai bên tách bạch: tranh luận về doanh thu là một chuyện, tranh luận về độ chắc chắn pháp lý là chuyện khác.
Bốn cấp độ chắc chắn và hệ số điều chỉnh tham khảo
Bảng dưới xếp tình trạng pháp lý của một cái tên theo bốn cấp, kèm hệ số nhân vào giá trị kinh tế đã ước. Các hệ số là ví dụ giả định để minh hoạ cách nghĩ, không phải chuẩn của ngành hay của cơ quan nào.
| Cấp | Tình trạng | Rủi ro chính | Hệ số ví dụ giả định |
|---|---|---|---|
| A | Có văn bằng còn hiệu lực, đúng nhóm hàng đang kinh doanh, đúng người bán đứng tên | Bị yêu cầu huỷ nếu có căn cứ; không sử dụng lâu năm | 0,95 – 1,00 |
| B | Đã nộp đơn, có số đơn và ngày nộp, chưa có kết quả | Bị từ chối một phần hay toàn bộ; bị phản đối | 0,75 – 0,90 |
| C | Chưa nộp đơn, đã tra cứu và không thấy dấu hiệu trùng, tương tự | Người khác nộp trước; tra cứu sót | 0,55 – 0,75 |
| D | Chưa nộp đơn, tra cứu thấy nhãn hiệu tương tự đã đăng ký cho hàng cùng loại | Phải đổi tên; bị yêu cầu bồi thường | 0,20 – 0,50 |
Khoảng hệ số rộng là có chủ ý. Cùng cấp C, một cái tên tự đặt độc đáo ít bị đụng hơn hẳn một cái tên mô tả như "bánh mì ngon", vốn khó được bảo hộ ngay cả khi nộp đơn. Cùng cấp A, văn bằng đã có hơn năm năm và đang được dùng đều đặn chắc chắn hơn văn bằng vừa cấp mà chủ đã bỏ không dùng. Người định giá chọn điểm trong khoảng dựa trên bằng chứng cụ thể, và phải ghi lại vì sao chọn điểm đó.
Ví dụ giả định: cùng một quán, hai tình trạng pháp lý
Giả sử sau khi tách phần lợi nhuận do cái tên mang lại, người định giá ước giá trị kinh tế của thương hiệu một quán cà phê là 1,2 tỷ đồng (ví dụ giả định). Nếu cái tên đã có văn bằng đúng nhóm dịch vụ ăn uống, đứng tên chính người bán, hệ số 0,97 cho ra khoảng 1,16 tỷ. Phần trừ nhỏ phản ánh chi phí và thời gian ghi nhận chuyển nhượng.
Nếu cái tên chưa từng nộp đơn nhưng tra cứu sạch, có thể tính theo kỳ vọng. Giả định xác suất đơn được cấp bằng là 70%. Khi được cấp, giá trị giữ nguyên 1,2 tỷ. Khi bị từ chối, quán phải đổi tên và giả định chỉ giữ được 40% giá trị nhờ vị trí, công thức và khách quen, tức 480 triệu. Giá trị kỳ vọng là 0,7 × 1,2 tỷ + 0,3 × 480 triệu = 984 triệu. Trừ tiếp chi phí nộp đơn, thuê đại diện và chi phí cơ hội của khoảng thời gian chờ, giả định 50 triệu, còn khoảng 934 triệu.
Chênh lệch giữa 1,16 tỷ và 934 triệu, khoảng 230 triệu trong ví dụ, chính là cái giá của sự không chắc chắn. Con số tuyệt đối không quan trọng; điều quan trọng là hai bên nhìn thấy nó đến từ đâu. Người bán muốn thu hẹp khoảng cách thì nộp đơn sớm hoặc chứng minh tra cứu kỹ; người mua muốn trả đúng thì yêu cầu bằng chứng cho từng giả định xác suất thay vì chấp nhận một mức giảm cảm tính.
Chưa đăng ký không có nghĩa là không có giá
Khách quen và thói quen mua vẫn có thật. Một quán đã đông khách nhiều năm vẫn giữ được phần lớn lượng khách nếu buộc phải đổi tên mà không đổi địa điểm, công thức và cách phục vụ. Đó là lý do trong ví dụ trên, kịch bản xấu vẫn giữ lại một phần giá trị.
Tên thương mại được bảo hộ theo cách khác. Tên doanh nghiệp đang sử dụng hợp pháp có cơ chế bảo hộ dựa trên việc sử dụng, không cần đơn đăng ký như nhãn hiệu. Nó không thay được văn bằng nhãn hiệu cho sản phẩm, nhưng là một lá chắn phụ khi tranh chấp.
Công thức, quy trình và bí quyết có thể là bí mật kinh doanh. Nếu được giữ kín có biện pháp bảo mật, chúng có giá trị riêng và chuyển giao được bằng hợp đồng. Trong nhiều thương vụ nhỏ, chính phần này mới là thứ người mua thèm muốn.
Bằng chứng sử dụng lâu năm giúp đỡ khi bị người khác tranh đăng ký. Hoá đơn, ảnh mặt tiền, bài đăng có ngày tháng, hợp đồng với nhà cung cấp có thể hỗ trợ khi phản đối một đơn đăng ký nộp với ý đồ không ngay thẳng. Không đảm bảo thắng, nhưng nâng xác suất giữ được tên.
Người mua chiến lược đôi khi không cần tên. Một chuỗi lớn mua quán nhỏ để lấy mặt bằng và khách, sau đó đổi sang tên của chuỗi. Với họ, tình trạng pháp lý của cái tên cũ gần như không ảnh hưởng tới giá, và người bán không nên kỳ vọng phần trả thêm cho văn bằng.
Người bán nên làm gì trước khi đem cái tên ra giao dịch
Nếu dự định bán hoặc cấp phép trong một hai năm tới, những việc sau đây có chi phí thấp so với phần chênh giá mà chúng có thể giữ lại:
- Tra cứu sơ bộ trên cơ sở dữ liệu nhãn hiệu công khai, lưu lại kết quả có ngày tháng để chứng minh đã kiểm.
- Nộp đơn càng sớm càng tốt, đúng tên người sẽ bán (thường là công ty nếu định bán qua công ty), đúng các nhóm hàng, dịch vụ đang và sắp kinh doanh.
- Giữ hồ sơ sử dụng: ảnh mặt tiền, bao bì, hoá đơn, bài đăng có ngày, để chứng minh lịch sử dùng tên nếu ai đó tranh chấp.
- Thống nhất một cách trình bày tên và logo, tránh mỗi chi nhánh một kiểu, vì nhãn hiệu được bảo hộ theo mẫu đã nộp.
- Ghi chép công thức, quy trình, danh sách nhà cung cấp thành tài liệu chuyển giao được, để phần giá trị không phụ thuộc vào trí nhớ của chủ.
Việc nộp đơn không cần đợi có văn bằng mới có ích: chỉ riêng số đơn và ngày nộp đã đưa cái tên từ cấp C lên cấp B trong bảng, và người mua có thể tiếp tục theo đuổi đơn sau khi được ghi nhận chuyển giao.
Người mua nên thương lượng thế nào khi tên chưa được bảo hộ
Người mua không cần từ chối thương vụ chỉ vì cái tên chưa đăng ký, nhưng cần cấu trúc lại cách trả tiền để người bán cùng gánh rủi ro. Cách phổ biến là trả theo mốc: một phần khi ký và bàn giao, một phần khi đơn được chấp nhận hợp lệ về hình thức, phần còn lại khi văn bằng được cấp đúng phạm vi đã thoả thuận. Nếu đơn bị từ chối, phần chưa trả không phải trả, hoặc được giảm theo công thức ghi sẵn trong hợp đồng.
Một cách khác là giữ lại một khoản tiền ở bên thứ ba trong thời gian chờ, hoặc thoả thuận người bán phải hợp tác, cung cấp chứng cứ sử dụng nếu có người phản đối đơn. Hợp đồng cũng nên có cam kết người bán không dùng, không đăng ký tên tương tự sau khi bán, ở phạm vi địa lý và thời gian hợp lý, vì cái tên chưa bảo hộ không tự ngăn được chính người bán cũ.
Trước khi chốt, người mua nên nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đánh giá khả năng đăng ký. Một ý kiến chuyên môn có cơ sở sẽ thay được con số xác suất cảm tính trong công thức, và thường làm hai bên bớt cãi nhau về hệ số.
Giới hạn của mọi hệ số và khi nào cần chứng thư
Hệ số trong bài là công cụ để nói chuyện, không phải định mức. Xác suất được cấp bằng phụ thuộc vào khả năng phân biệt của dấu hiệu, các nhãn hiệu đã có trên cơ sở dữ liệu và cách cơ quan thẩm định nhìn nhận từng trường hợp; không ai đưa ra được con số chính xác trước. Hai người định giá có thể chọn hai điểm khác nhau trong cùng khoảng mà đều có lý, miễn là cả hai ghi rõ căn cứ.
Quy định về sở hữu trí tuệ cũng được sửa đổi theo thời gian. Trước khi dựa vào bất kỳ nhận định pháp lý nào ở đây, bạn nên kiểm văn bản hiện hành và hỏi người làm nghề. Khi con số thương hiệu dùng vào việc góp vốn, tính thuế chuyển nhượng, làm tài sản bảo đảm hay đưa ra toà, cần thuê doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền phát hành chứng thư. Cách tính ở đây giúp bạn hiểu và kiểm lại con số ấy, không thay được nó.
Câu hỏi thường gặp
Cái tên dùng lâu hơn người đã đăng ký thì có được ưu tiên không?
Với nhãn hiệu thông thường, nguyên tắc chung là nộp đơn trước được xét trước, nên dùng trước không tự động thắng. Bằng chứng sử dụng lâu năm có thể hữu ích khi phản đối hoặc yêu cầu huỷ một đăng ký có dấu hiệu không ngay thẳng, nhưng kết quả tuỳ hồ sơ cụ thể. Cần luật sư đánh giá trước khi tính vào giá.
Có nên mua thương hiệu khi đơn của người bán vừa bị từ chối không?
Có thể, nếu giá đã phản ánh việc tên có thể phải đổi và phần còn lại như khách, công thức, kênh đủ đáng tiền. Cần đọc lý do từ chối: bị từ chối vì trùng một nhãn hiệu cụ thể khác hẳn bị từ chối vì thiếu khả năng phân biệt, và cách khắc phục cũng khác.
Văn bằng đứng tên người bán nhưng ở nhóm hàng khác thì tính cấp nào?
Với phần sản phẩm, dịch vụ không nằm trong văn bằng, nên coi như chưa đăng ký và xét theo cấp C hoặc D tuỳ kết quả tra cứu. Một văn bằng không phủ được hoạt động đang tạo ra doanh thu không đáng hệ số của cấp A.
Hệ số điều chỉnh có áp cho cả công thức và khách hàng không?
Không nên áp đồng loạt. Hệ số pháp lý chỉ áp lên phần giá trị phụ thuộc vào cái tên. Công thức có tài liệu, hợp đồng nhà cung cấp, mặt bằng hay thiết bị được định giá riêng và chịu rủi ro khác, nên tách ra trước khi nhân hệ số.
Người mua có thể tự nộp đơn đăng ký tên sau khi mua không?
Có thể, nếu hợp đồng ghi rõ người bán chuyển quyền đối với cái tên và đồng ý để người mua nộp đơn đứng tên mình. Khi đó rủi ro bị từ chối chuyển hẳn sang người mua, nên giá phải phản ánh điều này, và hợp đồng nên có điều khoản hợp tác cung cấp chứng cứ sử dụng.
Ước giá theo bảng này có dùng để nộp cho ngân hàng được không?
Không. Ngân hàng, cơ quan thuế hay toà án thường cần chứng thư của doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền, kèm hồ sơ pháp lý đầy đủ. Bảng ở đây chỉ để chủ thương hiệu hiểu con số của mình và chuẩn bị trước khi làm việc với họ.