Khi một bên góp thương hiệu và một bên góp tiền, tỷ lệ sở hữu hợp lý bằng giá trị thương hiệu chia cho tổng giá trị thương hiệu cộng tiền mặt, nếu cả hai được đo bằng cùng một thước. Ví dụ giả định: thương hiệu định giá 1,5 tỷ, nhà đầu tư góp 3,5 tỷ tiền mặt, thì người góp thương hiệu giữ 30%, người góp tiền giữ 70%. Phép chia không khó; cái khó là ba thứ hay bị trộn vào nhau: giá trị cái tên, công vận hành của người sáng lập, và cái giá của sự chưa chắc chắn.
Bài này tách ba thứ đó ra, chỉ cách dùng mốc kết quả khi hai bên không đồng ý về giá trị thương hiệu, và những lỗi làm tỷ lệ ban đầu trở thành nguồn bất mãn sau hai ba năm. Mọi số là ví dụ giả định. Khi phần góp vốn bằng thương hiệu cần ghi nhận chính thức hoặc có thể bị soi lại, nên có chứng thư của doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền.
Phép chia cơ bản và vì sao nó hay bị bóp méo
Phép chia đúng chỉ cần hai con số: giá trị thương hiệu tại ngày góp và số tiền mặt sẽ thật sự đổ vào. Nếu tiền mặt góp theo đợt, phải quy về hiện tại hoặc gắn tỷ lệ với từng đợt. Bóp méo thường đến từ hai phía. Người sáng lập tính giá thương hiệu theo kỳ vọng sau khi có tiền: "có vốn thì mở mười điểm, mười điểm thì thương hiệu đáng hai mươi tỷ". Người góp tiền thì tính theo giá thanh lý: "nếu mai đóng cửa, cái tên bán được ai".
Cả hai đều sai cùng một kiểu: dùng giá trị ở một thời điểm khác ngày góp. Giá trị sau khi có tiền chính là thứ hai bên cùng tạo ra bằng tiền và cái tên, nên không ai được tính trước cho riêng mình. Giá thanh lý bỏ qua việc người góp tiền đang mua một thương hiệu đang sống, có khách, có doanh thu. Con số đúng là giá trị của cái tên ở trạng thái hiện tại, với dòng doanh thu hiện tại, như một người mua độc lập sẽ thấy.
Tách ba thứ đang bị gộp chung
Người sáng lập một thương hiệu nhỏ thường mang tới ba thứ cùng lúc. Mỗi thứ nên được trả bằng một hình thức khác nhau, vì chúng có bản chất khác nhau.
| Thứ người sáng lập mang tới | Bản chất | Nên trả bằng gì |
|---|---|---|
| Cái tên, nhãn hiệu, khách quen theo tên | Tài sản, đã có sẵn | Cổ phần ngay khi góp, theo giá trị định giá |
| Công thức, quy trình, bí quyết đã ghi chép | Tài sản nếu chuyển giao được | Cổ phần nếu ghi chép đủ để người khác làm theo; nếu không, tính vào công |
| Thời gian, tay nghề, quan hệ để vận hành từ nay | Công sức tương lai | Lương thị trường cộng cổ phần nhận dần theo năm làm việc |
| Uy tín cá nhân, khách mua vì quen người chủ | Gắn với người, không chuyển được | Không tính vào giá thương hiệu; trả bằng cổ phần theo thời gian ở lại |
Khi gộp cả bốn dòng vào "giá thương hiệu", người sáng lập nhận phần lớn cổ phần ngay ngày đầu. Nếu một năm sau họ rời đi, công ty mất cả tay nghề lẫn phần khách theo người, còn người rời vẫn giữ nguyên tỷ lệ. Đây là nguồn bất mãn số một trong các liên doanh thương hiệu nhỏ.
Một ví dụ giả định đi trọn từ đầu tới tỷ lệ cuối
Thương hiệu trà sữa có ba điểm bán, chủ quán góp thương hiệu; một nhà đầu tư góp tiền để mở rộng. Các con số đều là ví dụ giả định.
- Định giá cái tên ở trạng thái hiện tại bằng hai cách: tiền bản quyền giả định ra khoảng 1,2–1,6 tỷ; chi phí dựng một cái tên mới có mức nhận biết tương đương ra khoảng 0,9–1,3 tỷ. Hai bên chốt 1,3 tỷ.
- Công thức và quy trình pha chế đã viết thành sổ tay, đào tạo được người mới trong hai tuần: cộng thêm 0,2 tỷ. Giá trị góp bằng tài sản là 1,5 tỷ.
- Nhà đầu tư góp 3,5 tỷ tiền mặt. Tỷ lệ tạm tính: 1,5 / (1,5 + 3,5) = 30% cho chủ quán, 70% cho nhà đầu tư.
- Chủ quán ở lại điều hành: nhận lương theo mặt bằng thị trường, cộng thêm một quỹ 10% cổ phần nhận dần trong bốn năm, mỗi năm 2,5%, mất phần chưa nhận nếu rời đi trước hạn.
- Sau bốn năm nếu chủ quán ở đủ, tỷ lệ cuối khoảng 37% so với 63% (quỹ 10% được tạo bằng cách pha loãng đều cả hai bên).
- Ghi tất cả vào thoả thuận cổ đông, kèm bảng tính làm phụ lục và ngày định giá.
Điểm mấu chốt là bước 4: phần công vận hành được trả theo thời gian thật sự bỏ ra, không được ứng trước. Nhà đầu tư dễ chấp nhận một con số định giá thương hiệu hào phóng hơn khi biết phần công đã được tách riêng và có điều kiện.
Khi hai bên không đồng ý về giá trị: dùng mốc kết quả
Nhiều cuộc đàm phán kẹt vì chủ thương hiệu tin cái tên đáng 2 tỷ, nhà đầu tư chỉ thấy 1 tỷ, và cả hai đều có lý lẽ. Thay vì chẻ đôi 1,5 tỷ cho xong, có thể để kết quả kinh doanh tự quyết.
Cách làm: ghi nhận ngay phần chắc chắn, ví dụ giả định 1 tỷ, tương ứng một tỷ lệ ban đầu. Đồng thời thoả thuận nếu sau hai năm doanh thu mang tên đạt một ngưỡng đã chốt, chủ thương hiệu được nhận thêm cổ phần tương ứng phần chênh. Nếu không đạt, tỷ lệ giữ nguyên. Ngưỡng phải đo bằng thứ khó bóp méo: doanh thu đã xuất hoá đơn, số điểm bán còn hoạt động, chứ không phải "mức độ nhận biết".
Cơ chế này có hai bẫy. Thứ nhất, nếu chủ thương hiệu cũng là người điều hành, họ có động cơ đẩy doanh thu bằng mọi giá trong hai năm đó, kể cả giảm giá sâu làm hỏng thương hiệu; ngưỡng nên có thêm điều kiện về biên lợi nhuận. Thứ hai, việc phát hành thêm cổ phần phải làm được về thủ tục ở thời điểm đó; nên hỏi luật sư cách viết để không vướng khi thực hiện.
Những dấu hiệu tỷ lệ đang lệch
Người góp thương hiệu nắm đa số mà không ở lại vận hành. Người góp tiền gánh rủi ro chính nhưng không có quyền quyết. Khi có biến, họ hoặc rút, hoặc kiện, và thương hiệu nằm giữa vòng tranh chấp.
Tỷ lệ chốt theo số vòng tròn cho dễ nói. "Chia 50–50 cho công bằng" thường che một trong hai bên đã nhượng mà không biết mình nhượng bao nhiêu. Tính ra con số trước, làm tròn sau, và để mỗi bên thấy phần làm tròn đi về phía ai.
Không tính rủi ro nhãn hiệu chưa có văn bằng. Nếu đơn đăng ký còn đang chờ, giá trị góp nên có điều kiện: phần chưa chắc chỉ ghi nhận khi văn bằng được cấp.
Tiền mặt góp theo đợt mà cổ phần trao một lần. Nếu đợt hai không tới, người góp thương hiệu đã chia phần cho một khoản tiền không bao giờ đến. Gắn cổ phần của người góp tiền với từng đợt thực góp.
Không có điều khoản về việc gọi vốn tiếp. Khi có nhà đầu tư mới, mọi bên bị pha loãng. Nên thống nhất trước ai có quyền ưu tiên góp thêm để giữ tỷ lệ.
Đặt con số trong khung pháp lý góp vốn
Dù hai bên thoả thuận tỷ lệ thế nào, phần vốn góp bằng thương hiệu vẫn phải qua bước định giá theo pháp luật doanh nghiệp: các thành viên, cổ đông sáng lập nhất trí hoặc thông qua tổ chức thẩm định giá, và chịu trách nhiệm liên đới nếu định cao hơn giá trị thực tế lúc góp. Nghĩa là con số 1,5 tỷ trong ví dụ không chỉ là con số thương lượng giữa hai người; nó là con số cả hai cùng chịu trách nhiệm trước công ty và bên thứ ba.
Phần cổ phần nhận dần theo công sức thường được thiết kế qua thoả thuận cổ đông, cơ chế chuyển nhượng nội bộ hoặc phát hành thêm, và cách làm hợp lệ tuỳ loại hình công ty. Bảng tính trong bài là để hai bên hiểu nhau và đi tới tỷ lệ; phần ghi nhận vốn chính thức, thuế phát sinh khi chuyển nhượng nhãn hiệu vào công ty và cách viết điều khoản nhận dần nên để luật sư, kế toán và doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền đảm nhận.
Ba phép thử trước khi ký tỷ lệ
Phép thử người mua ngoài. Hỏi: nếu hôm nay đem riêng cái tên cùng công thức ra bán cho một người không quen, họ trả khoảng bao nhiêu. Nếu con số góp vốn cao hơn hẳn câu trả lời thật thà cho câu này, phần chênh đang là kỳ vọng chứ không phải giá trị, và nên chuyển sang cơ chế mốc kết quả.
Phép thử người sáng lập rời đi. Giả sử sau một năm người sáng lập nghỉ. Mỗi bên giữ gì: người sáng lập giữ bao nhiêu phần trăm, công ty còn công thức không, khách quen còn không. Nếu nhà đầu tư thấy bất công nặng trong kịch bản này, phần cổ phần trao ngay cho người sáng lập đang gồm cả công sức tương lai.
Phép thử thất bại. Giả sử hai năm sau công ty đóng cửa. Nhãn hiệu về tay ai, theo giá nào, tiền mặt còn lại chia ra sao. Người góp thương hiệu thường muốn lấy lại tên; người góp tiền thường muốn bán tên để thu hồi phần nào. Không có điều khoản cho kịch bản này thì cuộc chia tay sẽ là tranh chấp.
Phép thử vòng vốn tiếp theo. Giả sử một năm sau có nhà đầu tư mới định giá cả công ty, họ sẽ nhìn phần góp bằng thương hiệu ra sao. Nếu con số ban đầu không có căn cứ, họ thường đòi điều chỉnh lại tỷ lệ của người sáng lập trước khi rót tiền.
Câu hỏi thường gặp
Có nên chia 50–50 khi một bên góp thương hiệu, một bên góp tiền không?
Chỉ khi giá trị thương hiệu thật sự xấp xỉ số tiền góp. Chia đều theo cảm giác thường khiến một bên nhượng mà không biết, và tạo thế bế tắc khi biểu quyết. Tính tỷ lệ theo giá trị trước, rồi mới bàn chuyện quyền quyết định ở những việc then chốt.
Nếu người góp tiền cũng đóng góp quan hệ phân phối thì tính sao?
Quan hệ phân phối là công sức hoặc tài sản tương lai, giống công vận hành của người sáng lập. Nên trả bằng cổ phần nhận dần gắn với kết quả, ví dụ số điểm bán thật sự mở được qua kênh đó, thay vì cộng thẳng vào phần góp ngay ngày đầu.
Có nên định giá thương hiệu theo doanh thu sau khi đã có tiền mở rộng?
Không. Doanh thu tương lai nhờ tiền mới là kết quả chung của cả tiền lẫn cái tên. Tính vào giá thương hiệu là để người sáng lập hưởng trước phần mà nhà đầu tư cùng tạo ra. Định giá phải dựa trên trạng thái hiện tại tại ngày góp.
Cổ phần nhận dần có làm người sáng lập thiệt không?
Không, nếu phần giá trị cái tên đã được trao đủ ngay từ đầu. Cổ phần nhận dần chỉ áp cho công sức tương lai. Người sáng lập ở lại đủ thời gian sẽ nhận đủ; rời sớm thì không nhận phần công chưa bỏ ra, điều này công bằng với các bên khác.
Nếu sau này cần thêm vốn, ai bị pha loãng?
Tất cả cổ đông bị pha loãng theo tỷ lệ, trừ khi thoả thuận khác. Người góp thương hiệu thường không có tiền để góp thêm giữ tỷ lệ, nên hay bị pha loãng mạnh nhất. Nên bàn trước quyền ưu tiên góp thêm và giới hạn pha loãng cho các vòng gần.
Có cần chứng thư thẩm định giá khi hai bên đã đồng ý con số?
Không phải lúc nào cũng bắt buộc, nhưng rất nên có khi con số lớn, khi sẽ có nhà đầu tư vào sau, hoặc khi cần vay vốn. Chứng thư giúp con số đứng vững trước bên thứ ba và giảm rủi ro phải góp bù phần chênh lệch nếu bị cho là định giá cao.