DinhGiaThuongHieu.comĐịnh Giá Thương Hiệu
Cách tính cho thương hiệu nhỏ

Tiền bản quyền giả định cho thương hiệu nhỏ: chọn tỷ lệ, bảng 5 năm, độ nhạy

Khi không có hợp đồng cấp phép để so, thương hiệu nhỏ ra tỷ lệ phí từ chính lợi nhuận của mình. Cách chọn tỷ lệ, bảng tính 5 năm, giá trị cuối kỳ và độ nhạy, số giả định.

Two business owners seen from behind at a dark wooden meeting table, blank papers and a calculator between them, city window view at dusk, violet and golden tones, shallow depth

Cách tiền bản quyền giả định hỏi: nếu doanh nghiệp không sở hữu cái tên mà phải thuê nó của người khác, mỗi năm phải trả bao nhiêu. Giá trị thương hiệu là tổng số tiền thuê mà chủ được miễn, sau thuế, quy về hiện tại. Với thương hiệu lớn, tỷ lệ phí được lấy từ các hợp đồng cấp phép tương tự. Thương hiệu nhỏ hầu như không có hợp đồng nào để so, nên phải suy tỷ lệ từ chính lợi nhuận của mình rồi kiểm lại bằng câu hỏi: bên đi thuê có còn lãi không.

Bài này không giảng lại phương pháp tổng quát mà đi thẳng vào bảng tính cho một shop thời trang nhỏ: ra tỷ lệ, dự phóng doanh thu 5 năm, tính giá trị cuối kỳ, thử độ nhạy. Mọi tỷ lệ và con số là ví dụ giả định, không phải mức phí thật của ngành hay thương hiệu nào. Kết quả dùng cho giao dịch có tính pháp lý cần chứng thư của doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền.

Vì sao thương hiệu nhỏ khó tìm tỷ lệ để so

Phương pháp miễn phí bản quyền được ưa chuộng vì nó dựa vào giá thị trường: người ta thật sự trả bao nhiêu phần trăm doanh thu để dùng một cái tên. Nhưng các hợp đồng cấp phép phần lớn được giữ kín. Những cơ sở dữ liệu tổng hợp hợp đồng cấp phép trên thế giới chủ yếu ghi nhận thương hiệu lớn, thường ở thị trường khác, ngành khác, quy mô khác.

Đem tỷ lệ của một nhãn thời trang quốc tế áp cho một shop thời trang Việt bán trên mạng là so hai thứ khác hẳn: cái tên kia có độ nhận biết nhiều nước, hệ thống phân phối, bộ phận thiết kế; cái tên này có vài chục nghìn khách quen và một chủ shop giỏi chọn mẫu. Tỷ lệ của bên kia là trần xa, không phải điểm neo.

Thêm nữa, ở Việt Nam, các hợp đồng cấp phép nhãn hiệu giữa doanh nghiệp nhỏ thường gắn với quan hệ quen biết, đi kèm cung cấp hàng hoá, nên tỷ lệ ghi trên giấy hiếm khi là giá thuê cái tên thuần tuý. Vì vậy, với thương hiệu nhỏ, đi từ lợi nhuận là con đường thực tế hơn.

Vẫn có vài nguồn đối chứng gần đúng đáng tìm: hợp đồng cho công ty con hay đơn vị gia công dùng nhãn mà chính doanh nghiệp từng ký, đề nghị cấp phép từng nhận được từ đối tác, phí dùng tên trong các đợt làm sản phẩm hợp tác. Chúng không phải giá thị trường hoàn hảo vì có quan hệ đi kèm, nhưng là dữ kiện về chính cái tên này, đáng giá hơn một tỷ lệ của ngành ở nước khác. Ghi rõ nguồn và những gì đi kèm trong từng hợp đồng.

Ra tỷ lệ từ lợi nhuận: điểm neo và giới hạn của nó

Lập luận chia lợi nhuận đặt câu hỏi: trong lợi nhuận hoạt động mà một sản phẩm mang tên tạo ra, bên cho thuê tên được hưởng bao nhiêu phần, bên làm hàng và bán hàng được bao nhiêu. Một điểm neo cũ trong giới cấp phép là quy tắc 25%: bên cho thuê nhận khoảng một phần tư lợi nhuận hoạt động dự kiến, bên thuê giữ ba phần tư vì gánh vốn, rủi ro, vận hành.

Cần biết giới hạn của điểm neo này. Nó là quy tắc kinh nghiệm, không phải kết quả nghiên cứu, và đã bị phê phán nhiều. Một toà phúc thẩm liên bang Mỹ năm 2011, trong vụ Uniloc kiện Microsoft, đã bác việc dùng quy tắc 25% làm điểm xuất phát tính bồi thường trong tranh chấp sáng chế vì nó không gắn với dữ kiện của vụ việc. Bài học: dùng nó để có một con số ban đầu, rồi điều chỉnh bằng dữ kiện của chính thương hiệu.

Áp vào ví dụ giả định: shop có doanh thu khoảng 6 tỷ đồng mỗi năm, biên lợi nhuận hoạt động đã làm sạch 12%. Một phần tư của 12% là 3% doanh thu. Đây chưa phải tỷ lệ cuối cùng, chỉ là điểm bắt đầu cho bước điều chỉnh.

Một cách kiểm khác là đi ngược từ phía bên thuê: liệt kê những gì bên thuê phải bỏ ra (vốn hàng tồn, mặt bằng, nhân sự, rủi ro tồn kho) và hỏi họ cần giữ lại bao nhiêu phần lợi nhuận để thấy đáng làm. Phần còn lại là trần của phí. Hai hướng cho cùng một vùng thì điểm neo đáng tin hơn; lệch nhau thì tìm xem bên nào đang gánh rủi ro mà chưa được tính.

Điều chỉnh tỷ lệ theo sức của cái tên

Mỗi yếu tố dưới đây kéo tỷ lệ lên hoặc xuống so với điểm neo. Ghi ra từng yếu tố và hướng tác động giúp người đọc thấy lập luận thay vì một con số trơ.

Yếu tốKéo tỷ lệTrong ví dụ
Khách tìm đúng tên shop, mua lại nhiềuLênKhoảng một phần ba đơn từ khách cũ: hỗ trợ
Giá bán giữ được, ít phải giảm giáLênGiảm giá thường xuyên vào cuối mùa: kéo xuống
Cái tên gắn với người chủ (chủ là gương mặt của shop)XuốngCó: kéo xuống rõ
Nhãn hiệu đã có văn bằng, đúng nhóm hàngLênCó văn bằng cho nhóm quần áo
Lợi nhuận phụ thuộc kênh quảng cáo trả tiềnXuốngMột nửa đơn từ quảng cáo: kéo xuống
Cái tên mở rộng được sang dòng hàng khácLênĐã thử bán túi, phụ kiện: hỗ trợ nhẹ

Tổng hợp, ví dụ chọn 2,5% doanh thu. Kiểm tra: bên thuê trả 2,5% vẫn còn biên 9,5%, cao hơn mức khoảng 8% của một shop cùng loại không có tên tuổi (giả định). Nếu sau khi trả phí, biên của bên thuê thấp hơn shop không tên, tỷ lệ đang quá cao: không ai thuê một cái tên để lãi ít hơn khi không thuê.

Bảng tính 5 năm (ví dụ giả định)

Dự phóng doanh thu tăng chậm dần, tỷ lệ phí 2,5%, thuế suất giả định 20%, tỷ lệ chiết khấu 24%. Đơn vị: triệu đồng, riêng doanh thu tính bằng tỷ.

NămDoanh thu (tỷ)Phí 2,5%Sau thuếHệ số chiết khấuGiá trị hiện tại
16,01501200,80697
26,61651320,65086
37,11781420,52474
47,51881500,42363
57,81951560,34153
Cộng 5 năm374

Sau năm thứ năm, cái tên không biến mất ngay. Thay vì giả định tăng trưởng mãi mãi như với doanh nghiệp, với thương hiệu nhỏ nên giả định phần phí giảm dần, ví dụ 5% mỗi năm. Giá trị cuối kỳ tại năm 5 khoảng 156 × 0,95 ÷ (0,24 + 0,05) ≈ 511 triệu, quy về hiện tại khoảng 174 triệu. Tổng giá trị thương hiệu khoảng 548 triệu đồng, trong đó phần cuối kỳ chiếm gần một phần ba.

Thử độ nhạy: tỷ lệ phí và tỷ lệ chiết khấu

Hai tham số này quyết định gần hết kết quả. Bảng dưới giữ nguyên dự phóng doanh thu, chỉ đổi hai tham số. Đơn vị: triệu đồng, làm tròn.

Tỷ lệ chiết khấuPhí 2%Phí 2,5%Phí 3%
20%518647776
24%438548658
28%379474569

Khoảng từ thấp nhất tới cao nhất rộng gấp đôi. Đó không phải lỗi của phương pháp mà là sự thật về mức độ không chắc chắn. Trình bày bảng này cho người mua có hai cái lợi: họ thấy bạn không giấu giả định, và cuộc thương lượng chuyển sang hai câu hỏi cụ thể là tỷ lệ phí nào và rủi ro bao nhiêu, thay vì cãi nhau quanh một con số tổng.

Một tham số nữa đáng thử là dự phóng doanh thu. Nếu doanh thu đi ngang ở 6 tỷ thay vì tăng, giá trị ở kịch bản giữa giảm khoảng 15–20%.

Năm lỗi hay gặp trong bảng tính tiền bản quyền giả định

Bảng tính trông đơn giản nhưng có vài chỗ dễ sai mà kết quả vẫn trông hợp lý.

  • Tính phí trên doanh thu đã gồm thuế giá trị gia tăng. Phí bản quyền tính trên doanh thu thuần; dùng doanh thu gộp thuế là đẩy kết quả lên đúng bằng phần thuế.
  • Trộn trước thuế và sau thuế. Phí tiết kiệm được là khoản trước thuế thu nhập; quên trừ thuế mà vẫn chiết khấu bằng tỷ lệ áp cho dòng tiền sau thuế là đếm thừa.
  • Dự phóng doanh thu cả shop thay vì doanh thu hàng mang tên. Shop bán thêm hàng của nhãn khác thì phần đó không chịu phí.
  • Giá trị cuối kỳ tăng trưởng dương mãi mãi. Với tên nhỏ, đây là chỗ dễ thổi phồng nhất; phần cuối kỳ chiếm quá nửa tổng là dấu hiệu cần xem lại.
  • Dùng tỷ lệ chiết khấu của cả doanh nghiệp. Phần phí là dòng tiền do cái tên tạo ra, rủi ro hơn bình quân, nên tỷ lệ thường phải cao hơn.

Mỗi lỗi trên có thể làm lệch kết quả vài chục phần trăm, và gần như đều lệch theo một hướng là lên. Đi qua danh sách này trước khi đưa bảng cho người mua giúp tránh mất uy tín ở những điểm dễ bị bắt lỗi nhất.

Kiểm tra chéo trước khi dùng con số

  • Bên thuê còn lãi không: đã kiểm ở trên; làm lại cho từng năm nếu dự phóng biên lợi nhuận thay đổi.
  • So với phần khách trả thêm: nếu shop bán đắt hơn hàng cùng loại khoảng 5% nhờ tên, phí 2,5% chiếm một nửa phần trả thêm, hợp lý. Phí lớn hơn cả phần trả thêm cần lý do khác, như sức kéo lượng.
  • So với lợi nhuận vượt mức: phí sau thuế năm đầu khoảng 120 triệu; nếu cách lợi nhuận vượt mức cho phần do tên khoảng 100–150 triệu, hai cách đang khớp.
  • Doanh thu nào chịu phí: chỉ doanh thu bán hàng mang tên. Hàng nhập về bán lại dưới tên nhà sản xuất khác không nên tính phí cho tên shop.
  • Chi phí duy trì: trong hợp đồng cấp phép thật, ai trả chi phí quảng bá? Nếu bên thuê trả, tỷ lệ phí phải thấp hơn trường hợp bên cho thuê trả.

Con số tự tính phục vụ việc hiểu và thương lượng. Khi giá trị thương hiệu làm căn cứ góp vốn, ghi sổ, nộp thuế hay tranh chấp, cần chứng thư của doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ phí bản quyền tính trên doanh thu hay lợi nhuận?

Phổ biến nhất là trên doanh thu thuần của hàng mang tên, vì doanh thu dễ kiểm và khó bị điều chỉnh hơn lợi nhuận. Khi định giá, tỷ lệ trên doanh thu được suy từ lợi nhuận như trong bài. Trong hợp đồng thật, hai bên còn có thể thoả thuận phí tối thiểu hoặc phí cố định kèm phần trăm.

Có thể lấy tỷ lệ phí nhượng quyền định kỳ làm tỷ lệ bản quyền không?

Không nên lấy trực tiếp. Phí nhượng quyền định kỳ thường trả cho cả gói: tên, hệ thống vận hành, đào tạo, hỗ trợ, đôi khi cả nguồn hàng. Phí bản quyền thuần tuý cho cái tên chỉ là một phần của gói đó. Dùng phí nhượng quyền làm tỷ lệ sẽ đánh giá cao giá trị thương hiệu.

Vì sao không giả định tăng trưởng mãi mãi sau năm thứ năm?

Vì với thương hiệu nhỏ, sức của cái tên phụ thuộc nhiều vào việc tiếp tục đầu tư và vào người điều hành. Giả định nó tăng trưởng mãi mà không tốn chi phí là giả định khó bảo vệ. Cho phần phí giảm dần sau năm cuối là cách thận trọng hơn, và người mua dễ chấp nhận hơn.

Tỷ lệ chiết khấu cho thương hiệu nên cao hơn hay thấp hơn tỷ lệ của cả doanh nghiệp?

Thường cao hơn. Thương hiệu là tài sản rủi ro hơn bình quân tài sản của doanh nghiệp: nó có thể mất tác dụng nhanh khi có khủng hoảng hoặc khi người chủ rời đi, và khó bán lại riêng. Mức chênh bao nhiêu là phán đoán; quan trọng là ghi rõ lý do và cho xem độ nhạy.

Shop chưa đăng ký nhãn hiệu thì có dùng cách này được không?

Dùng được để ước giá trị sử dụng, nhưng phải nhớ rằng không có văn bằng thì không có gì chắc chắn để cho thuê. Trên thực tế, bên thuê sẽ đòi phí thấp hơn hẳn hoặc chờ đến khi văn bằng được cấp. Khi định giá, nên giảm tỷ lệ hoặc tăng tỷ lệ chiết khấu cho rủi ro pháp lý.

Có phải trừ chi phí duy trì cái tên khỏi khoản phí tiết kiệm được không?

Tuỳ giả định về hợp đồng thuê. Nếu giả định bên cho thuê lo quảng bá và bảo hộ, chủ sở hữu tự lo những việc này nên phải trừ chi phí đó. Nếu giả định bên thuê tự lo, tỷ lệ phí đã thấp hơn tương ứng. Chọn một cách và giữ nhất quán.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.