Văn bằng nhãn hiệu ở Việt Nam có hiệu lực mười năm tính từ ngày nộp đơn và được gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm, nếu chủ sở hữu làm thủ tục và nộp phí đúng hạn. Vì vậy một văn bằng sắp hết hạn không mất giá nếu được gia hạn đúng lúc; thứ làm mất giá là bỏ quên gia hạn và không sử dụng nhãn hiệu trong thời gian dài. Trường hợp sau nguy hiểm hơn vì nó âm thầm: văn bằng vẫn còn trên giấy, nhưng có thể bị người khác yêu cầu chấm dứt hiệu lực nếu nhãn hiệu không được dùng liên tục trong năm năm mà không có lý do chính đáng.
Người mua một thương hiệu đã ngừng kinh doanh, hay một nhãn hiệu mà chủ chỉ giữ để "phòng khi cần", cần hiểu hai rủi ro này để không trả giá của một văn bằng vững cho một văn bằng mong manh. Bài này đi qua từng tình huống, kèm cách tính bằng ví dụ giả định. Mốc thời gian và thủ tục cụ thể cần kiểm theo văn bản hiện hành.
Bốn tình huống về thời hạn và mức ảnh hưởng
Bảng sau phân loại tình trạng hiệu lực của văn bằng theo mức độ người mua cần lo, kèm việc cần làm trước khi chốt giá:
| Tình huống | Ảnh hưởng tới giá | Việc cần làm trước khi chốt |
|---|---|---|
| Còn nhiều năm hiệu lực, đang dùng đều | Gần như không | Ghi lịch hạn gia hạn vào hồ sơ bàn giao |
| Sắp tới hạn trong vài tháng | Nhỏ nếu gia hạn kịp | Người bán nộp gia hạn trước khi chuyển nhượng, hoặc thoả thuận ai nộp |
| Đã quá hạn nhưng còn trong khoảng được gia hạn muộn | Trung bình, rủi ro thủ tục | Nộp gia hạn muộn ngay, kiểm điều kiện và phụ phí theo quy định hiện hành |
| Đã hết hiệu lực, quá khoảng gia hạn muộn | Lớn: coi như chưa đăng ký | Tra xem đã có ai nộp đơn cho dấu hiệu đó chưa, tính lại theo cấp chưa bảo hộ |
Điểm hay bị bỏ sót là người bán không biết chính xác ngày hết hạn, vì nhớ nhầm hiệu lực tính từ ngày cấp. Thời hạn mười năm tính từ ngày nộp đơn, nên văn bằng cấp muộn có thể còn ít năm hơn người bán nghĩ. Người mua nên tự đọc văn bằng hoặc tra trên cơ sở dữ liệu công khai, không dựa vào lời kể.
Không sử dụng: rủi ro im lặng làm văn bằng rỗng ruột
Luật sở hữu trí tuệ nhiều nước, trong đó có Việt Nam, không muốn nhãn hiệu bị giữ chỗ mà không dùng. Nếu nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được phép sử dụng trong năm năm liên tục mà không có lý do chính đáng, bên thứ ba có thể yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng. Chi tiết về ai được yêu cầu, chứng minh ra sao, ngoại lệ nào được chấp nhận cần kiểm theo quy định hiện hành.
Với người định giá, điều này có nghĩa: văn bằng của một thương hiệu đã ngừng bán ba bốn năm vẫn còn giá trị pháp lý, nhưng giá trị đó đang hao mòn theo thời gian. Đến gần mốc năm năm, nếu có một đối thủ muốn dùng tên đó, họ có lý do để tấn công. Một văn bằng có thể bị chấm dứt bất cứ lúc nào không đáng giá như văn bằng đang dùng đều đặn.
Cũng cần phân biệt "không dùng" với "dùng khác". Nhãn hiệu được dùng nhưng trên sản phẩm không nằm trong danh mục, hoặc dưới mẫu khác hẳn mẫu đăng ký, có thể không được tính là sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký. Người bán tưởng mình vẫn dùng, người yêu cầu chấm dứt lại lập luận ngược lại. Hồ sơ sử dụng phải khớp với văn bằng thì mới có giá trị phòng thủ.
Ví dụ giả định: thương hiệu ngừng bán bốn năm
Một thương hiệu nước mắm từng có tiếng ở một tỉnh duyên hải, ngừng sản xuất bốn năm trước. Văn bằng còn hiệu lực ba năm nữa. Một người muốn mua lại để hồi sinh. Giả định nếu thương hiệu vẫn đang bán ổn định, giá trị kinh tế ước 1,5 tỷ đồng (ví dụ giả định). Nhưng sau bốn năm, khách cũ phân tán, kênh phân phối mất, nên giá trị kinh tế còn lại giả định chỉ khoảng 40%, tức 600 triệu, chủ yếu nhờ trí nhớ của người tiêu dùng lớn tuổi trong vùng.
Về pháp lý, văn bằng đã gần mốc năm năm không sử dụng. Giả định xác suất bị yêu cầu chấm dứt trong khoảng thời gian trước khi người mua kịp đưa hàng trở lại thị trường là 20%; nếu bị chấm dứt, người mua phải nộp đơn mới và có thể đụng một người khác đã nộp trước, giả định giữ được 30% giá trị. Giá trị kỳ vọng: 0,8 × 600 + 0,2 × 180 = 480 + 36 = 516 triệu.
Người mua có thể giảm rủi ro bằng cách đưa sản phẩm trở lại thị trường càng sớm càng tốt dưới đúng mẫu nhãn, đúng danh mục, và lưu bằng chứng sử dụng từ ngày đầu. Có những ý kiến cho rằng sử dụng gấp gáp chỉ để giữ văn bằng có thể không được công nhận nếu không thật; nên đưa hàng thật ra bán, có hoá đơn thật, chứ không làm hình thức.
Bằng chứng sử dụng: thứ người bán nên giữ, người mua nên đòi
Hoá đơn bán hàng có tên sản phẩm. Hoá đơn thể hiện rõ sản phẩm mang nhãn, theo từng năm, là bằng chứng mạnh và khó làm giả hồi tố.
Ảnh bao bì, sản phẩm, mặt tiền có ngày tháng. Ảnh lưu trên máy có dữ liệu ngày chụp, hoặc đăng trên trang của thương hiệu, cho thấy mẫu nhãn được dùng thế nào qua thời gian.
Hợp đồng với nhà phân phối, đại lý, sàn. Thể hiện hàng mang nhãn được đưa ra thị trường qua kênh nào, ở đâu, khi nào.
Tài liệu quảng cáo, tham gia hội chợ. Bổ trợ, nhưng thường yếu hơn hoá đơn vì quảng cáo không chứng minh hàng thật sự được bán.
Bằng chứng sử dụng bởi bên được cấp phép. Nếu nhãn hiệu được người khác dùng theo hợp đồng cấp phép, việc sử dụng đó thường được tính cho chủ sở hữu. Người mua nên xin bản hợp đồng để chắc chắn có căn cứ.
Năm việc người mua kiểm về hiệu lực và sử dụng
Trước khi đưa bất kỳ con số nào vào hợp đồng, người mua nên tự đi qua trình tự sau. Phần lớn làm được trong vài ngày, không tốn kém, và mỗi bước trả lời một giả định trong phép tính:
- Đọc văn bằng gốc, ghi ngày nộp đơn, tính ngày hết hạn, đối chiếu với cơ sở dữ liệu công khai xem thông tin hiệu lực có khớp không.
- Hỏi người bán lần cuối cùng hàng mang nhãn được bán ra là khi nào, và yêu cầu bằng chứng của từng năm trong năm năm gần nhất.
- So mẫu nhãn trên hàng đã bán với mẫu trong văn bằng, và sản phẩm đã bán với danh mục được bảo hộ.
- Tra xem có ai đã nộp đơn cho dấu hiệu giống hoặc gần giống trong thời gian thương hiệu nằm im không; đó thường là dấu hiệu có người đang chờ cơ hội.
- Lập kế hoạch đưa hàng trở lại thị trường, với mốc ngày cụ thể, để biết khoảng thời gian rủi ro còn treo bao lâu sau khi mua.
Kết quả năm bước này quyết định xác suất trong công thức kỳ vọng. Nếu bước bốn phát hiện đã có người nộp đơn tương tự, rủi ro không còn là giả thuyết, và cần luật sư đánh giá trước khi bàn giá tiếp. Nếu bước hai cho thấy hàng vẫn bán đều, dù ít, thì rủi ro không sử dụng giảm hẳn và phần chiết khấu nên thu nhỏ tương ứng.
Thương hiệu cũ nằm im có còn giá trị kinh tế
Bên cạnh văn bằng, cần hỏi thẳng: người tiêu dùng có còn nhớ cái tên không, và nhớ theo hướng tốt hay xấu. Một thương hiệu dừng vì chủ già yếu, không người nối nghiệp, thường để lại ký ức tốt. Một thương hiệu dừng vì bê bối chất lượng thì ký ức có thể là gánh nặng, và văn bằng còn hay mất không thay đổi được điều đó.
Cách đo đơn giản cho thương hiệu nhỏ là khảo sát nhanh trong vùng từng bán: hỏi một nhóm người mua thường xuyên xem họ có nhận ra tên, có nhớ sản phẩm, có sẵn lòng thử lại không. Không cần một nghiên cứu lớn; một vài chục cuộc trò chuyện có ghi chép đã cho người mua cảm nhận tốt hơn nhiều so với lời kể của người bán.
Giá trị kinh tế của thương hiệu ngủ đông chủ yếu là tiết kiệm chi phí xây nhận biết khi quay lại. Người mua có thể ước bằng cách so chi phí và thời gian để một cái tên mới đạt mức nhận biết tương đương. Nếu thương hiệu cũ chỉ còn được nhớ bởi một nhóm nhỏ, phần tiết kiệm ấy cũng nhỏ, và giá không nên vượt quá chi phí tái tạo.
Cách thương lượng và giới hạn của bài
Khi văn bằng sắp hết hạn, cách gọn nhất là yêu cầu người bán gia hạn trước khi ký chuyển nhượng, hoặc ghi rõ trong hợp đồng ai nộp, ai chịu phí, và hệ quả nếu việc gia hạn không thành. Khi nhãn hiệu đã lâu không dùng, người mua nên trả theo mốc: một phần khi chuyển nhượng được ghi nhận, phần còn lại sau một khoảng thời gian mà văn bằng không bị ai yêu cầu chấm dứt, hoặc khi người mua đã đưa hàng trở lại thị trường đủ lâu để tự phòng thủ.
Người bán biết thương hiệu của mình đang nằm im nên hiểu rằng mỗi năm chờ là một năm giá giảm, cả về kinh tế lẫn pháp lý. Nếu không định hồi sinh, bán sớm thường được giá hơn bán muộn.
Thời hạn gia hạn, khoảng gia hạn muộn, điều kiện chấm dứt do không sử dụng đều có thể được sửa đổi; bạn nên kiểm văn bản hiện hành và hỏi người làm đại diện sở hữu công nghiệp. Nếu cần con số cho mục đích góp vốn, thuế hay tài sản bảo đảm, hãy dùng chứng thư của doanh nghiệp thẩm định giá có thẩm quyền.
Câu hỏi thường gặp
Quên gia hạn vài tháng thì nhãn hiệu có mất hẳn không?
Theo quy định hiện hành có một khoảng thời gian sau ngày hết hạn mà chủ sở hữu vẫn có thể nộp gia hạn muộn kèm phụ phí. Quá khoảng đó, văn bằng chấm dứt hiệu lực và tên coi như chưa được bảo hộ. Cần kiểm chính xác khoảng thời gian và điều kiện ngay khi phát hiện.
Mua nhãn hiệu không dùng để giữ chỗ có rủi ro gì?
Văn bằng không sử dụng trong năm năm liên tục có thể bị yêu cầu chấm dứt hiệu lực. Ngoài ra, việc đăng ký hay mua nhãn hiệu chỉ để chặn người khác hoặc bán lại có thể bị coi là không ngay thẳng. Giá trị của nhãn hiệu không dùng vì thế thấp và mong manh.
Thương hiệu bán theo mùa, mỗi năm vài tháng có bị coi là không sử dụng không?
Sử dụng theo mùa vẫn là sử dụng nếu có hàng thật bán ra thị trường mỗi năm và có bằng chứng. Điều quan trọng là liên tục qua các năm và khớp với mẫu, danh mục đã đăng ký. Giữ hoá đơn từng mùa là cách phòng thủ tốt nhất.
Người mua có thể tính thời gian không sử dụng của chủ cũ vào rủi ro của mình không?
Có, và nên tính. Thời gian không sử dụng của chủ cũ vẫn có thể được xem xét khi ai đó yêu cầu chấm dứt, nên người mua thừa hưởng rủi ro ấy. Đó là lý do giá nên trừ và việc đưa hàng trở lại thị trường cần làm sớm.
Gia hạn văn bằng có làm tăng giá trị thương hiệu không?
Gia hạn chỉ giữ giá trị, không tạo thêm. Một văn bằng vừa gia hạn cho người mua sự yên tâm về thời gian, nhưng nếu thương hiệu không có khách, không có lợi nhuận riêng thì văn bằng dài hạn cũng không làm giá trị kinh tế tăng lên.
Người bán chưa gia hạn thì người mua có thể tự nộp gia hạn không?
Việc gia hạn do chủ sở hữu ghi trên văn bằng thực hiện hoặc uỷ quyền. Nếu chuyển nhượng chưa được ghi nhận, người mua nên có giấy uỷ quyền của người bán để làm thay, và hợp đồng nên quy định rõ trách nhiệm nếu việc gia hạn bị lỡ.