Ứng dụng di động mang thương hiệu nhỏ thường đáng ít hơn nhiều so với số tiền chủ đã bỏ ra làm nó. Người mua không trả cho chi phí quá khứ; họ trả cho người dùng còn hoạt động, đơn hàng qua ứng dụng và phần tiết kiệm so với tự làm, rồi trừ đi chi phí duy trì hằng năm và các nghĩa vụ đi kèm như điểm thưởng khách đang giữ.
Với nhiều chuỗi quán, cửa hàng nhỏ, ứng dụng là thứ người mua có thể thay bằng trang web đặt hàng hoặc tài khoản trên nền tảng nhắn tin mà không mất bao nhiêu khách. Khi đó ứng dụng gần như không có giá. Bài này giúp bạn xác định khi nào ứng dụng thật sự cộng vào giá thương hiệu, cách tính, và những khoản phải trừ. Con số là ví dụ giả định.
Vì sao tiền đã bỏ ra không phải là giá
Chủ thương hiệu hay lập luận: ứng dụng tốn 400 triệu đồng để làm, nên phải được tính ít nhất chừng đó. Người mua nhìn khác: số tiền đó đã chi, dù ứng dụng tốt hay dở. Câu hỏi của họ là nếu không có ứng dụng này, họ có cần làm một cái không, và làm cái mới tốn bao nhiêu với công nghệ hiện tại.
Công cụ làm ứng dụng thay đổi nhanh. Một ứng dụng làm cách đây vài năm có thể dùng thư viện đã lỗi thời, phải cập nhật lớn để còn chạy trên phiên bản hệ điều hành mới. Có khi làm lại từ đầu bằng công cụ hiện tại rẻ hơn sửa ứng dụng cũ. Khi đó chi phí thay thế thấp hơn số tiền đã bỏ ra, và chi phí thay thế mới là trần.
Điều này không có nghĩa ứng dụng vô giá trị. Phần giá trị nằm ở thứ không mua được bằng tiền làm phần mềm: người dùng đã cài và còn mở, thói quen đặt hàng qua ứng dụng, lịch sử mua, các tích hợp đã chạy ổn với hệ thống bán hàng. Định giá đúng là đo những thứ đó, không đo hoá đơn của công ty phần mềm.
Đo người dùng: số nào có nghĩa, số nào không
Người bán thường đưa số lượt tải. Người mua cần những số khác:
| Chỉ số | Có nghĩa không | Vì sao |
|---|---|---|
| Tổng lượt tải từ trước đến nay | Ít | Gồm cả người đã xoá ứng dụng từ lâu |
| Người dùng hoạt động hằng tháng | Có | Số người còn mở ứng dụng |
| Người đặt hàng qua ứng dụng mỗi tháng | Có, quan trọng nhất | Gắn trực tiếp với doanh thu |
| Tỷ lệ giữ chân sau 30, 90 ngày | Có | Cho biết ứng dụng có thói quen dùng thật không |
| Doanh thu qua ứng dụng so với các kênh khác | Có | Cho biết khách có chuyển sang kênh khác được không |
| Điểm đánh giá trên kho ứng dụng | Phần nào | Điểm thấp kéo lượt cài mới xuống |
| Số người đăng ký nhận thông báo | Phần nào | Kênh nhắc khách miễn phí, nhưng tỷ lệ mở thường thấp |
Câu hỏi then chốt: nếu ứng dụng biến mất, bao nhiêu phần trăm khách đặt hàng qua ứng dụng sẽ chuyển sang đặt qua kênh khác của thương hiệu? Với chuỗi đồ uống có điểm bán đông, phần lớn sẽ chuyển; với dịch vụ đặt lịch, giao hàng định kỳ có thói quen sâu, tỷ lệ mất có thể cao hơn. Chỉ phần khách sẽ mất mới là lợi ích riêng của ứng dụng.
Điểm thưởng, ví trả trước và các nghĩa vụ đi kèm
Điểm thưởng là nợ, không phải tài sản. Khách đang giữ điểm tích luỹ có quyền đổi ra hàng hoặc giảm giá. Khi mua thương hiệu kèm ứng dụng, người mua thường phải tiếp tục tôn trọng số điểm đó, nếu không sẽ mất lòng khách và có thể gặp khiếu nại. Giá trị điểm chưa đổi, tính theo chi phí hàng hoá cho khách đổi và tỷ lệ điểm thực tế được dùng, cần trừ khỏi giá.
Ví, thẻ trả trước càng phải trừ. Nếu ứng dụng cho khách nạp tiền trước để mua dần, số dư đó là tiền của khách. Người mua tiếp nhận ứng dụng là tiếp nhận nghĩa vụ phục vụ phần tiền này; giá phải trừ đúng bằng số dư, hoặc người bán chuyển kèm số tiền tương ứng.
Ưu đãi đã hứa. Gói thành viên năm, mã giảm giá có hạn dài, quà sinh nhật đã cam kết cũng là nghĩa vụ. Người mua nên đòi bảng liệt kê đầy đủ tại ngày chốt.
Ví dụ giả định. Khách đang giữ tổng cộng 900 triệu đồng giá trị điểm theo mệnh giá, tỷ lệ điểm thực tế được đổi khoảng 40%, chi phí hàng hoá bằng 45% giá bán. Nghĩa vụ ước tính khoảng 162 triệu đồng. Nếu người bán không tính dòng này, một ứng dụng "đáng 300 triệu đồng" có thể chỉ còn giá trị ròng hơn 100 triệu đồng.
Bảng tính mẫu cho ứng dụng của một chuỗi trà sữa nhỏ
Ví dụ giả định: chuỗi tám điểm bán, ứng dụng có khoảng 6.000 người đặt hàng mỗi tháng, chi phí duy trì 120 triệu đồng mỗi năm:
| Dòng | Cách tính | Giá trị (ví dụ giả định) |
|---|---|---|
| Đơn sẽ mất nếu không có ứng dụng | 20% khách đặt qua ứng dụng không chuyển sang kênh khác, 2 đơn mỗi tháng, biên lãi 15.000 đồng, hai năm, năm sau còn 60% | khoảng 690 triệu đồng |
| Chi phí duy trì hai năm | Máy chủ, phí kho ứng dụng, đội sửa lỗi, cập nhật hệ điều hành | − 240 triệu đồng |
| Nghĩa vụ điểm thưởng | Tính như phần trên | − 162 triệu đồng |
| Giá trị ròng của ứng dụng | khoảng 288 triệu đồng | |
| Trần: chi phí làm mới tương đương | Ước chi phí làm lại bằng công cụ hiện tại | 350 triệu đồng |
Giá trị ròng nằm dưới trần nên người mua có lý do để giữ ứng dụng thay vì làm mới. Nếu giá trị ròng vượt trần, người mua sẽ chọn làm mới và chỉ trả cho dữ liệu khách chuyển được.
Dòng đầu tiên chỉ tính 20% khách sẽ mất — đó là chỗ tránh cộng trùng. 80% khách còn lại vẫn mua qua quầy, qua kênh khác vì họ biết thương hiệu; phần đó nằm trong giá cái tên.
Bảng tính giúp người bán không bị dắt mũi trong thương lượng, nhưng ngân hàng, cơ quan thuế và toà án chỉ nhận con số trong chứng thư của doanh nghiệp thẩm định giá theo Luật Giá 2023.
Chuyển ứng dụng sang người mua
Các kho ứng dụng lớn có quy trình chuyển ứng dụng giữa hai tài khoản nhà phát triển, mỗi kho có điều kiện riêng. Trình tự chung:
- Người mua mở tài khoản nhà phát triển đứng tên pháp nhân của mình, hoàn tất xác minh.
- Kiểm điều kiện chuyển của từng kho: ứng dụng không đang chờ duyệt bản mới, không có giao dịch mua trong ứng dụng đang gắn với cấu hình không chuyển được, hợp đồng của hai tài khoản phù hợp.
- Bàn giao mã nguồn đầy đủ, khoá ký ứng dụng và tài liệu dựng bản phát hành; thiếu khoá ký có thể phải phát hành ứng dụng mới, mất người dùng cũ.
- Chuyển máy chủ, cơ sở dữ liệu, dịch vụ gửi thông báo, dịch vụ bên thứ ba sang tài khoản của người mua.
- Thực hiện chuyển ứng dụng trên kho; người dùng cũ tiếp tục nhận bản cập nhật nếu chuyển đúng quy trình.
- Kiểm lại: phát hành một bản cập nhật nhỏ từ tài khoản người mua, đảm bảo đăng nhập, thanh toán, thông báo chạy bình thường.
Khoá ký ứng dụng và quyền truy cập máy chủ là hai thứ hay bị quên nhất, thường nằm ở công ty phần mềm làm thuê. Người mua nên giữ lại một phần tiền đến khi phát hành thành công bản cập nhật đầu tiên. Điều kiện chuyển của từng kho thay đổi theo thời gian; đọc tài liệu chính thức hiện hành trước khi lên lịch.
Nợ kỹ thuật và quyết định giữ hay bỏ
Nợ kỹ thuật là những lối tắt trong mã nguồn mà sớm muộn phải trả bằng công sửa: thư viện quá cũ, mã không có tài liệu, chỉ một lập trình viên hiểu cách hệ thống chạy. Người mua nên nhờ một lập trình viên độc lập đọc mã nguồn một vài ngày trước khi chốt. Chi phí đó nhỏ so với rủi ro phải viết lại toàn bộ sau sáu tháng.
Kết quả đọc mã thường dẫn đến một trong ba quyết định. Giữ và phát triển tiếp nếu mã sạch, người dùng đông. Giữ tạm để không mất khách, đồng thời làm mới song song rồi chuyển người dùng sang. Bỏ hẳn, chuyển khách sang trang web hay tài khoản nhắn tin, nếu số người dùng ít và chi phí duy trì cao. Mỗi quyết định cho một con số khác nhau cho ứng dụng.
Người bán nên chuẩn bị sẵn tài liệu kỹ thuật cơ bản: sơ đồ hệ thống, danh sách dịch vụ bên thứ ba và chi phí, danh sách tài khoản, quy trình phát hành. Tài liệu này không chỉ giúp bàn giao mà còn làm giảm mức chiết khấu rủi ro người mua áp vào, vì phần chưa biết ít đi.
Ứng dụng có đáng giữ không: nhìn theo dạng thương hiệu
Cùng là ứng dụng, giá trị khác nhau rất nhiều tuỳ cách khách dùng thương hiệu. Bảng dưới là xu hướng chung để bạn tự xếp chỗ của mình:
| Dạng thương hiệu | Ứng dụng thường dùng để | Khả năng cộng vào giá |
|---|---|---|
| Quán, chuỗi đồ uống đông khách vãng lai | Tích điểm, đặt trước | Thấp; khách vẫn mua tại quầy nếu không có ứng dụng |
| Dịch vụ đặt lịch: làm đẹp, chăm sóc thú cưng, sửa chữa | Đặt lịch, nhắc lịch, lưu lịch sử dịch vụ | Trung bình đến cao; thói quen đặt lịch khó chuyển |
| Giao hàng định kỳ: sữa, rau, nước | Đặt gói, đổi lịch giao | Cao nếu khách dùng thường xuyên |
| Trung tâm đào tạo, lớp học | Lịch học, bài tập, liên lạc với phụ huynh | Trung bình; phụ thuộc nội dung đi kèm có chuyển được không |
| Thương hiệu sản phẩm bán qua đại lý | Giới thiệu sản phẩm, kích hoạt bảo hành | Thấp; khách ít mở lại |
Bảng này giúp tránh hai sai lầm ngược nhau. Người bán ở dạng thứ nhất thường đòi giá cao cho ứng dụng tốn nhiều tiền làm, trong khi khách của họ không cần ứng dụng để quay lại. Người mua ở dạng thứ ba đôi khi coi nhẹ ứng dụng, trong khi chính nó giữ lịch giao hàng của hàng nghìn gia đình — tắt đi là mất khách thật, không phải mất một kênh phụ.
Câu hỏi thường gặp
Ứng dụng có 50.000 lượt tải thì đáng bao nhiêu?
Lượt tải không đủ để trả lời. Cần biết bao nhiêu người còn mở ứng dụng mỗi tháng, bao nhiêu người đặt hàng qua đó, và nếu không có ứng dụng thì bao nhiêu khách sẽ mất. Có ứng dụng nhiều lượt tải mà gần như không ai còn dùng.
Ứng dụng do công ty phần mềm làm và họ giữ mã nguồn thì có bán được không?
Phải đọc hợp đồng làm phần mềm. Nếu mã nguồn và quyền tác giả chưa chuyển cho thương hiệu, người bán cần làm việc với công ty phần mềm trước. Nếu ứng dụng chạy trên nền tảng thuê bao của họ, giá trị ứng dụng phụ thuộc điều kiện tiếp tục thuê.
Dữ liệu người dùng trong ứng dụng có chuyển được không?
Chỉ phần có cơ sở pháp lý theo quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành, thường cần chính sách quyền riêng tư cho phép chuyển khi đổi chủ hoặc có sự đồng ý của người dùng. Nên thông báo cho người dùng về việc đổi chủ trước khi chuyển.
Phí kho ứng dụng và tài khoản nhà phát triển có chuyển cho người mua không?
Tài khoản nhà phát triển gắn với pháp nhân, không chuyển; người mua mở tài khoản riêng và nhận ứng dụng qua quy trình chuyển. Phí duy trì tài khoản là chi phí của người mua từ khi nhận.
Có nên gộp điểm thưởng vào giá rồi để người mua lo?
Không nên giấu. Điểm thưởng là nghĩa vụ với khách, người mua sẽ phát hiện khi đọc dữ liệu. Liệt kê rõ và trừ khỏi giá giúp thương vụ minh bạch, tránh tranh chấp sau khi bàn giao.
Ứng dụng ít người dùng thì có nên tắt trước khi bán thương hiệu?
Không nên tắt đột ngột vì sẽ làm khách quen khó chịu và tạo đánh giá xấu. Có thể để người mua quyết định, hoặc thông báo trước, chuyển khách sang kênh khác, quy đổi điểm thưởng rồi mới ngừng. Chi phí làm việc đó nên được tính vào thương lượng.